Cập nhật:  21/09/2018 10:58:26 (GMT+7)  In bài này

Giá trị sau gia công chủ yếu do đại gia ngoại chiếm lĩnh    

 

1.740 doanh nghiệp Việt Nam đang thực hiện hoạt động gia công hàng hóa cho nước ngoài và chỉ thu về 8,6 tỷ USD trong năm 2016.

 

gia công dệt may

Phí gia công của hàng dệt may và giầy dép chiếm trọng số lớn nhất trong hoạt động gia công, lắp ráp hàng hóa cho nước ngoài. Ảnh: TL

 

Ngày 19-9, Tổng cục Thống kê công bố kết quả Tổng điều tra kinh tế 2017. Điểm nhấn tại cuộc công bố này chính là số liệu điều tra về tình hình gia công hàng hóa cho nước ngoài.

 

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2016, Việt Nam có 1.740 doanh nghiệp thực hiện hoạt động gia công hàng hóa với nước ngoài. Trong đó, có 1.687 doanh nghiệp nhận gia công hàng hóa cho nước ngoài và có 52 doanh nghiệp Việt Nam gửi nguyên liệu ra nước ngoài thuê gia công.

 

Tuy vậy, tổng phí gia công các doanh nghiệp Việt Nam thu được từ hoạt động nhận gia công, lắp ráp hàng hóa cho nước ngoài năm 2016 chỉ đạt 8,6 tỷ USD. Phí gia công của hàng dệt may và giầy dép chiếm trọng số lớn nhất trong hoạt động gia công, lắp ráp hàng hóa cho nước ngoài.

 

Dệt may đứng đầu với số ngoại tệ thu về 4,1 tỷ USD, chiếm 48% tổng phí gia công; giầy dép thu về 2,7 tỷ USD, chiếm 32% tổng phí gia công; lắp ráp điện thoại 268 triệu USD, chiếm 3,1%; lắp ráp điện tử máy tính là 63 triệu USD, chiếm 0,7% và gia công hàng hóa khác thu được 1,4 tỷ USD, chiếm 16,2%.

 

Tổng cục Thống kê cho hay: tổng giá trị nguyên liệu nhập khẩu phục vụ cho quá trình gia công, lắp ráp đạt 20,2 tỷ USD, chiếm 11,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm sau gia công, lắp ráp đạt 32,4 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

 

Tuy thế, giá trị hàng hóa sau gia công lại chủ yếu do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm lĩnh. Cụ thể khu vực FDI này chiếm 25,6 tỷ USD, tương đương 78,9% tổng giá trị hàng hóa sau gia công. Đồng thời, nguyên liệu nhập khẩu cho gia công của các doanh nghiệp FDI là 16,3 tỷ USD, chiếm 80,5% tổng giá trị nguyên liệu nhập khẩu.

 

Theo Tổng cục Thống kê, hoạt động gia công hàng hóa với nguyên liệu đầu vào do đối tác nước ngoài cung cấp và sở hữu nên tỷ lệ giá trị nguyên liệu nhập khẩu về để gia công, lắp ráp so với tổng giá trị hàng hóa sau gia công ở mức khá cao 62,3%.

 

Trong đó, tỷ lệ này cao nhất ở nhóm hàng điện thoại - với 78,9%, nhóm hàng điện tử máy tính - 76,4%, nhóm dệt may - 67,1%, nhóm giầy dép - 47% và nhóm hàng hóa khác là 74,7%. 

 

“Số liệu cho thấy, với nhóm hàng điện thoại và điện tử máy tính, gần như doanh nghiệp Việt Nam chỉ thu được phí gia công, lắp ráp do nước ngoài trả mà không cung cấp nguyên liệu phụ trợ sản xuất trong nước cho hoạt động gia công đối với 2 nhóm hàng này”, Tổng cục Thống kê nhận định.

 

Tuy nhiên, tỷ lệ này ở nhóm hàng dệt may và giầy dép thấp hơn, cho thấy ngoài nguyên liệu nhập khẩu từ nước thuê gia công, doanh nghiệp Việt Nam có cung cấp thêm nguyên liệu đầu vào sản xuất trong nước phục vụ cho quá trình gia công.

 

“Với nhóm hàng dệt may và giầy dép, ngoài khoản thu về phí gia công, doanh nghiệp Việt Nam còn thu được một khoản ngoại tệ từ việc cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ quá trình gia công, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa đối với nhóm hàng dệt may và giầy dép”, kết quả Tổng điều tra cho biết.

 

Cũng theo kết quả Tổng điều tra, các đối tác chính đặt hàng doanh nghiệp Việt Nam gia công, lắp ráp hàng hóa trong năm 2016 gồm 5 quốc gia và vùng lãnh thổ: Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.

 

Hầu hết sản phẩm sau khi gia công, lắp ráp được xuất khẩu trở lại cho nước đặt gia công hoặc xuất khẩu cho nước khác theo chỉ định của nước đặt gia công. Trị giá hàng hóa sau gia công, lắp ráp bán tại Việt Nam so với tổng giá trị hàng hóa sau gia công thấp với 3,9%, trong đó thấp nhất là điện thoại và dệt may, tỷ lệ được để lại tiêu thụ tại Việt Nam tương ứng là 0,2% và 1%.

 

Chân Luận (Theo PLO)

0 người thích


Kho cung cấp hàng "siêu đẳng" của Amazon hoạt động như thế nào?